Làm một chiếc chum sành Hương Canh trải qua sáu chặng chính: lấy và chọn đất, luyện đất cho dẻo đều, tạo hình bằng bàn xoay và tay, phơi trong bóng râm cho khô dần, xếp lò, rồi nung ở lửa cao trong nhiều ngày đêm. Chặng nào hỏng cũng đổ công cả mẻ, và hai chặng khó nhất là vuốt chum cỡ lớn và giữ lửa lò.
Bài này đi qua từng công đoạn theo cách các thợ gốm lâu năm ở Hương Canh vẫn kể, kèm những điều người đến xem nên biết để không cản việc và giữ an toàn. Chi tiết từng nhà có thể khác nhau, nhất là ở khâu lò, vì một số hộ đã chuyển sang lò dùng nhiên liệu khác thay cho củi.
Đất: thứ quyết định một nửa chất lượng
Gốm sành cần loại đất sét có độ dẻo để vuốt được thành hình lớn mà không sụp, đồng thời chịu được lửa cao mà không chảy. Thợ Hương Canh từ xưa dùng đất sét ở vùng đồi và ruộng quanh làng, có khi phối thêm loại đất khác hoặc cát để điều chỉnh độ dẻo và độ co. Mỗi lò có công thức phối đất riêng, thường là bí quyết trong nhà.
Khi vùng Bình Xuyên đô thị hoá, các khu đất lấy sét cũ thành nhà ở, đường, khu công nghiệp. Việc khai thác đất cũng phải theo quy định quản lý tài nguyên. Nhiều hộ vì thế mua đất từ nơi khác về, phải thử từng lô để biết đất co bao nhiêu, chịu lửa thế nào. Đổi nguồn đất là một trong những lý do khiến màu và độ kêu của gốm thay đổi so với hàng ngày trước.
Đất mới về được để ngoài trời hoặc ngâm nước cho tơi, nhặt bỏ sỏi, rễ cây, tạp chất. Người thợ nhìn màu, bóp thử, vê thành sợi để xem đất có nứt khi uốn không. Thợ già chỉ cần cầm một nắm đất là đoán được đất đó làm chum to được hay chỉ hợp làm đồ nhỏ.
Luyện đất: công việc nặng nhất mà ít ai thấy
Đất sau khi ngâm phải được nhào, đánh, ủ để đồng đều độ ẩm và đẩy hết bọt khí ra ngoài. Ngày trước, người làm gốm nhào đất bằng chân, giẫm đi giẫm lại trên một khoảng sân, rồi dùng tay đập, cuộn, cắt khối đất để kiểm tra mặt cắt. Đất còn bọt khí khi nung sẽ phồng, nứt, vỡ cả chiếc chum.
Đây là công đoạn tốn sức nhất, thường do đàn ông khoẻ trong nhà làm, kéo dài cả buổi cho một mẻ. Ngày nay nhiều hộ dùng máy nhào đất, máy đùn để đỡ sức, nhưng đất làm chum cỡ lớn vẫn có người ưa luyện tay vì kiểm soát được độ dẻo theo ý.
Đất luyện xong được cuộn thành khối, phủ bạt hoặc bao giữ ẩm, để ủ thêm một thời gian. Ủ giúp nước thấm đều vào từng hạt đất, đất dẻo và "ăn tay" hơn khi vuốt. Thợ gốm gọi đất đã ủ đủ là đất chín, đất chưa ủ đủ là đất sống, và đất sống khó lên được dáng chum cao.
Tạo hình: bàn xoay, vòng đất và đôi tay
Đồ nhỏ như lọ, liễn, hũ có thể vuốt trọn trên bàn xoay từ một khối đất. Chum, vại cỡ lớn thì khó hơn nhiều, vì không ai vuốt một lần ra được cái chum cao ngang thắt lưng. Thợ thường dựng đáy trước, rồi đắp dần từng vòng đất cuộn lên thân, vừa đắp vừa xoay bàn, dùng tay và dụng cụ gỗ ép, vuốt cho các vòng dính chặt vào nhau và thành đều độ dày.
Bàn xoay truyền thống quay bằng tay hoặc chân, người phụ có khi đứng xoay cho thợ cả vuốt. Thợ cả một tay đỡ bên trong, một tay vỗ, vuốt bên ngoài, mắt canh độ tròn và độ thẳng. Thân lên cao đến đâu phải để se mặt đến đó rồi mới đắp tiếp, nếu không phần dưới sẽ sụp vì sức nặng phía trên. Một chiếc chum lớn vì thế có thể mất cả ngày, chia làm nhiều lượt.
Khâu cuối là làm vai, làm miệng. Miệng chum phải tròn và đều để đậy nắp vừa, vai phải cân để chum không lệch khi nung. Hoa văn đơn giản như đường chỉ, vòng lượn sóng được khắc khi đất còn hơi ẩm. Người xem thường ngạc nhiên vì tay thợ già vuốt nhanh và đều như máy, trong khi người mới học vuốt mãi không lên được một vòng thẳng.
Phơi: nhanh quá thì nứt, chậm quá thì lỡ mẻ
Gốm mới tạo hình chứa nhiều nước. Nếu phơi thẳng dưới nắng to hoặc gió lùa, mặt ngoài khô nhanh hơn bên trong, đất co không đều và nứt. Thợ Hương Canh vì thế hay phơi sản phẩm trong bóng râm, dưới mái hiên, trong nhà xưởng thoáng, xoay chiều cho khô đều, khi đã se mới đưa ra chỗ nắng nhẹ.
Thời gian phơi phụ thuộc thời tiết và cỡ sản phẩm. Mùa hanh khô đầu đông thường thuận cho việc phơi, còn những đợt nồm ẩm cuối xuân ở miền Bắc làm gốm lâu khô, có khi phải chờ rất lâu mới đủ để vào lò. Đó là lý do lịch nung của các lò không cố định, phụ thuộc vào trời.
Trong lúc phơi, thợ đi kiểm tra từng chiếc, vá những vết nứt nhỏ bằng đất loãng, loại bỏ chiếc nứt sâu để đập ra làm đất lại. Sản phẩm đủ khô có màu nhạt đều, gõ nhẹ kêu khô, cầm thấy nhẹ hơn hẳn lúc mới làm. Chỉ những chiếc như thế mới được đưa vào lò.
Xếp lò và nung: những ngày đêm canh lửa
Lò gốm truyền thống ở các làng sành Bắc Bộ thường là lò xây bằng gạch chịu lửa, dài, dựa theo độ dốc để lửa đi từ cửa đốt lên phía trên. Xếp lò là một nghề riêng: chum to đặt chỗ nào, đồ nhỏ chèn vào khe nào, chồng bao nhiêu lớp để lửa luồn đều mà không đè vỡ hàng. Xếp sai, cả mẻ chín không đều.
Khi nung, lửa được nâng dần. Giai đoạn đầu đốt nhỏ để đuổi hơi nước còn lại trong đất, nếu nâng lửa vội gốm sẽ nổ. Sau đó lửa được đẩy lên cao để đất kết lại thành sành. Thợ canh lửa thay nhau trực ngày đêm, nhìn màu lửa qua lỗ quan sát, nghe tiếng lò, thêm củi đúng lúc. Toàn bộ quá trình nung và để nguội có thể kéo dài nhiều ngày.
Ra lò là lúc cả nhà hồi hộp nhất. Hàng được lấy ra khi lò đã nguội bớt, phân loại: chiếc đạt, chiếc có vết nứt nhỏ, chiếc méo, chiếc hỏng. Tỷ lệ hỏng tuỳ mẻ, tuỳ thời tiết và tay người canh lửa. Một số hộ chuyển sang lò dùng gas hoặc điện để chủ động nhiệt độ và giảm khói, đổi lại màu gốm có thể đều hơn nhưng mất đi những vệt loang của lửa củi.
Đến xưởng gốm xem làm: điều nên và không nên
Hỏi trước lịch làm. Ngày ra lò, ngày vuốt chum lớn là những ngày đáng xem nhất nhưng cũng là ngày thợ bận nhất. Hỏi trước để đến đúng lúc mà không cản việc.
Giữ khoảng cách với lò đang đốt. Quanh lò rất nóng, có thể có than hồng, gạch nóng, củi xếp đống. Trẻ em phải có người lớn giữ tay, không chạy nhảy gần cửa lò.
Không chạm vào hàng đang phơi. Gốm mộc chưa nung rất dễ móp, dễ vỡ. Một cú chạm tay có thể làm hỏng công cả ngày của thợ.
Xin phép khi chụp ảnh. Nhiều thợ vui lòng cho chụp, nhưng nên hỏi trước, nhất là khi chụp cận mặt người hoặc chụp trong nhà.
Mặc đồ cũ, giày kín. Sân gốm có đất, bụi, mảnh sành sắc. Giày kín giúp bạn đi lại an toàn, quần áo cũ thì không ngại dính đất.
Muốn thử nặn, hỏi xem nhà có nhận không. Không phải xưởng nào cũng có chỗ cho khách thử. Nếu được nhận, hãy theo hướng dẫn và gửi lại chút tiền công hoặc mua một món đồ để cảm ơn.
Dụng cụ của người thợ gốm sành
Đồ nghề của thợ gốm Hương Canh phần lớn đơn giản và tự làm. Cái làm nên sản phẩm là đôi tay, nhưng biết tên dụng cụ giúp người xem hiểu từng động tác của thợ.
- Bàn xoay: mặt bàn tròn bằng gỗ đặt trên trục, quay bằng tay, chân hoặc mô tơ; thợ có thể điều chỉnh tốc độ theo cỡ sản phẩm.
- Dụng cụ vuốt, vỗ: miếng gỗ, mảnh tre, mảnh vải ướt để ép thành, làm phẳng mặt, tạo đường chỉ.
- Dây cắt: sợi dây mảnh dùng cắt khối đất, tách sản phẩm khỏi bàn xoay.
- Dụng cụ khắc hoa văn: que tre, que sắt, con lăn nhỏ để khắc đường chỉ, vòng sóng quanh vai chum.
- Bạt, bao, tấm phủ: giữ ẩm cho đất ủ và cho sản phẩm đang làm dở giữa các lượt đắp.
- Dụng cụ lò: que cời lửa, lỗ quan sát, gạch chèn, kệ kê hàng trong lò.
Nhiều dụng cụ được thợ tự làm từ gỗ, tre, theo thói quen tay của mình. Người học nghề thường được thợ cả cho mượn hoặc làm giúp bộ dụng cụ đầu tiên, rồi dần tự chỉnh lại cho vừa tay.
Khi đến xưởng, bạn có thể để ý cách thợ cất dụng cụ: mỗi thứ một chỗ quen, ngay tầm tay. Với người làm gốm, chỉ cần với tay sai chỗ một lần trong lúc đang vuốt chum là thành đất có thể lệch đi. Sự ngăn nắp ấy cũng là một phần của nghề, được truyền lại cùng với kỹ thuật.
Lỗi hay gặp và cách thợ nhận ra
Nứt chân chim khi phơi. Những vết nứt nhỏ như chân chim xuất hiện khi gốm khô quá nhanh hoặc không đều. Thợ thấy sớm thì miết đất loãng vá lại; nứt sâu thì đập bỏ làm đất lại, không đưa vào lò.
Nổ trong lò. Đất còn bọt khí hoặc gốm chưa đủ khô mà gặp lửa lớn sẽ nổ, có khi làm vỡ cả những chiếc bên cạnh. Đó là lý do khâu luyện đất và phơi phải kỹ, và giai đoạn đầu nung phải đốt nhỏ lửa.
Méo, lệch dáng. Chum xếp lệch trong lò hoặc thân không đều độ dày sẽ bị méo khi nung. Thợ nhận ra ngay khi ra lò bằng cách nhìn miệng chum có tròn không, đặt xuống có cập kênh không.
Non lửa. Chiếc nằm ở chỗ lửa yếu có thể chưa chín tới, màu nhạt, gõ kêu bộp, dễ thấm nước. Hàng non lửa thường được hạ loại hoặc đưa vào nung lại ở mẻ sau.
Rò nước. Có những vết nứt ngầm không thấy bằng mắt. Thợ và người mua kiểm bằng cách gõ nghe tiếng và đổ nước ngâm thử vài ngày trước khi dùng.
Câu hỏi thường gặp
Làm một chiếc chum sành Hương Canh mất bao lâu?
Riêng khâu tạo hình chum cỡ lớn có thể mất cả ngày, chia làm nhiều lượt đắp. Cộng thêm thời gian ủ đất, phơi khô trong bóng râm và chờ đủ hàng để nung, rồi nung và để lò nguội, từ lúc nhào đất đến lúc ra lò có thể kéo dài nhiều tuần, tuỳ thời tiết và lịch lò của từng nhà.
Vì sao gốm sành phải nung ở lửa cao?
Ở nhiệt độ cao, các thành phần trong đất sét chảy một phần và kết dính các hạt lại với nhau, làm xương gốm đặc, chắc, ít thấm nước. Đó là khác biệt giữa sành và đất nung. Nếu lửa chưa tới, gốm còn non, gõ kêu bộp và dễ thấm, dễ vỡ.
Lò củi và lò gas cho gốm khác nhau thế nào?
Lò củi khó điều khiển nhiệt hơn, tốn công canh lửa, nhiều khói, nhưng tro củi bay bám tạo những vệt màu tự nhiên trên mặt gốm. Lò gas hoặc lò điện chủ động nhiệt độ, ít hỏng hơn và ít khói, nhưng màu gốm đều hơn. Nhiều xưởng chọn tuỳ loại sản phẩm và yêu cầu của khách.
Người ngoài có học được nghề gốm ở Hương Canh không?
Có thể, nếu tìm được nhà còn làm và đồng ý nhận. Học vuốt đồ nhỏ thì nhanh, còn vuốt chum lớn và canh lò cần nhiều năm làm cạnh thợ cả. Ngoài ra còn có các lớp gốm ở đô thị để tập kỹ năng cơ bản trước khi về làng học thêm.
Gốm mộc chưa nung có dùng được không?
Không nên dùng gốm chưa nung để đựng nước hay đồ ăn. Đất chưa nung gặp nước sẽ mềm ra, rã thành bùn. Gốm mộc chỉ dùng để trang trí khô hoặc làm mẫu. Muốn dùng được phải qua lò nung đủ nhiệt.
Vì sao gốm Hương Canh mỗi chiếc một màu?
Vị trí trong lò quyết định mỗi chiếc nhận bao nhiêu lửa và bao nhiêu tro củi. Chiếc gần cửa lửa thường sẫm và có thể có vệt bóng, chiếc xa hơn nhạt hơn. Thêm vào đó, đất mỗi lô hơi khác nhau. Sự không đồng đều này được nhiều người coi là nét riêng của gốm lò củi.