VinhPhuc.orgVĩnh Phúc
Di tích và lễ hội

Hát trống quân Đức Bác: lối hát đối đáp ven sông Lô và người giữ làn điệu

Hát trống quân Đức Bác là lối hát đối đáp nam nữ của làng ven sông Lô, nay thuộc xã Sông Lô. Bài giải thích cách hát, lời ca, mùa hát và nơi còn nghe được.

Group of villagers in brown traditional clothes singing in two facing rows on a riverbank at dusk, a simple drum between them, wide view from behind

Hát trống quân là lối hát đối đáp giữa hai bên nam và nữ, phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, trong đó trống quân ở làng Đức Bác thuộc huyện Sông Lô cũ được coi là một trong những nơi giữ làn điệu rõ nét nhất. Từ 1/7/2025, Đức Bác cùng Đồng Thịnh, Tứ Yên, Yên Thạch hợp thành xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ.

Hát trống quân Đức Bác đã được ghi danh trong danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Nhưng với người làng, nó trước hết là thứ âm thanh quen thuộc của những đêm trăng, của các buổi họp mặt, là cách ông bà họ từng tỏ tình, thách đố, trêu ghẹo nhau bằng lời ca.

Bài này giúp người chưa từng nghe trống quân hiểu nó là gì: hình thức hát, nhịp điệu, lời ca, những đặc điểm của trống quân Đức Bác, và chỗ có thể nghe hát ngày nay. Chỗ nào chưa có tư liệu đáng tin, bài ghi rõ là chưa xác định.

Trống quân là gì: từ “trống đất” đến lời ca đối đáp

Tên gọi trống quân thường được giải thích gắn với một loại nhạc cụ dân gian gọi là trống đất: người ta đào một hố nhỏ, căng dây qua miệng hố, gõ vào dây để tạo tiếng “thình thình” làm nhịp cho người hát. Ngày nay ở nhiều nơi, trống đất được thay bằng trống thường hoặc chỉ gõ nhịp đơn giản, nhưng tên gọi vẫn giữ.

Về nguồn gốc, có nhiều giả thuyết. Một cách giải thích phổ biến gắn trống quân với sinh hoạt của quân lính thời xưa, khi binh sĩ hát đối đáp để giải trí. Các nhà nghiên cứu dân ca thận trọng hơn, coi trống quân là lối hát giao duyên dân gian có từ lâu đời, được lưu truyền và biến đổi ở nhiều vùng. Không có tài liệu nào xác định được thời điểm ra đời chính xác.

Điểm cốt lõi của trống quân là đối đáp. Hai bên nam và nữ đứng thành hai phía, lần lượt hát, bên này hỏi thì bên kia đáp, bên này thách thì bên kia giải. Lời ca thường theo thể thơ lục bát hoặc biến thể, cho phép người hát ứng tác tại chỗ. Người hát giỏi không chỉ có giọng tốt mà phải nhanh trí, thuộc nhiều câu và biết đối lại cho khéo.

Trống quân Đức Bác có gì riêng

Gắn với dòng sông Lô. Đức Bác là làng ven sông Lô. Người làng kể rằng xưa có lúc trống quân được hát trên thuyền, hai bên thuyền đối nhau, tiếng hát vang trên mặt sông trong những đêm trăng. Chi tiết này đến từ lời kể của các nghệ nhân, phản ánh không gian sông nước của làng.

Mùa hát. Như nhiều nơi khác ở Bắc Bộ, trống quân thường được hát nhiều vào mùa thu, nhất là quanh dịp rằm tháng Tám, khi trời mát, trăng sáng và nông nhàn. Ngày nay hát trống quân còn xuất hiện trong lễ hội làng, ngày văn hoá, các buổi giao lưu.

Lề lối hát. Một cuộc hát trống quân thường có trình tự: hát chào, hát mời, hát hỏi, hát đố, hát giao duyên, rồi hát tiễn. Mỗi phần có những câu quen thuộc, nhưng người hát vẫn có thể ứng tác. Trình tự cụ thể của Đức Bác do các nghệ nhân trong làng nắm rõ nhất.

Giọng hát và nhịp. Giọng hát trống quân mộc mạc, không cầu kỳ luyến láy như quan họ. Nhịp hát dựa vào nhịp gõ của trống, đều và chắc. Người nghe lần đầu có thể thấy đơn giản, nhưng chính sự đơn giản đó giúp người hát tập trung vào lời ca.

Người giữ làn điệu. Đức Bác có câu lạc bộ hát trống quân, quy tụ các nghệ nhân lớn tuổi và người trẻ học hát. Đây là lực lượng chính giữ làn điệu, đi biểu diễn, dạy hát cho thế hệ sau.

Lời ca trống quân: thách đố, trêu ghẹo và tình cảm

Lời ca trống quân phần nhiều nói về tình cảm trai gái, về đời sống làng quê, về lao động trên đồng, trên sông. Có những câu hỏi đố về kiến thức đời thường, về địa danh, về sự tích; có những câu trêu ghẹo dí dỏm khiến cả hai bên cùng cười. Không ít câu mang nỗi niềm sâu lắng về duyên phận, chia ly.

Vì dựa trên thể lục bát quen thuộc, lời trống quân dễ nhớ, dễ thuộc. Người làng nhiều thế hệ đã thuộc lòng hàng trăm câu từ khi còn nhỏ, nghe người lớn hát trong các đêm trăng. Đến khi lớn, họ có thể tự đặt lời mới, đối đáp với người làng bên. Đó là cách một kho lời ca dân gian sống và lớn lên qua thời gian.

Lời ca trống quân cũng là kho tư liệu về đời sống xã hội xưa: chuyện cưới hỏi, chuyện mùa màng, chuyện đi lính, chuyện chợ búa. Các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian coi những câu hát này là nguồn quý để hiểu tâm tư người nông dân vùng trung du ven sông. Người muốn tìm hiểu sâu có thể tìm các công trình sưu tầm dân ca Vĩnh Phúc đã được xuất bản.

Trống quân, quan họ và soọng cô: phân biệt ba lối hát người ta hay nhắc

Khách đến Vĩnh Phúc cũ dễ nghe nhắc đến nhiều lối hát dân gian. Bảng dưới giúp phân biệt sơ bộ:

Lối hátVùng thường gắnHình thứcĐặc điểm nghe
Hát trống quânĐức Bác (Sông Lô) và nhiều làng Bắc BộĐối đáp nam nữ, có trống làm nhịpMộc mạc, nhịp đều, lời lục bát
Quan họBắc Ninh, Bắc Giang cũĐối đáp giữa các bọn nam nữ kết chạLuyến láy cầu kỳ, nhiều làn điệu
Hát soọng côNgười Sán Dìu ở Tam Đảo, Bình Xuyên, Tam Dương cũĐối đáp giao duyên bằng tiếng Sán DìuGiai điệu riêng của cộng đồng Sán Dìu

Mỗi lối hát có lề lối và cộng đồng chủ nhân riêng. Gọi đúng tên và hiểu đúng xuất xứ là cách tôn trọng cơ bản với những người giữ di sản.

Người mới nghe có thể bắt đầu bằng cách so sánh: nghe một đoạn quan họ rồi nghe một đoạn trống quân, sẽ thấy ngay quan họ chú trọng kỹ thuật giọng, còn trống quân đặt trọng tâm vào lời và sự nhanh trí. Soọng cô thì khác hẳn ở ngôn ngữ và thang âm, mang màu sắc của cộng đồng Sán Dìu sống lâu đời ở vùng chân núi Tam Đảo.

Giữ trống quân giữa đời sống hiện đại

Như mọi loại hình dân ca, trống quân gặp khó khi đời sống thay đổi. Người trẻ đi học, đi làm xa, giải trí bằng điện thoại, mạng xã hội; những đêm trăng hát đối đáp không còn là sinh hoạt tự nhiên như xưa. Các nghệ nhân giỏi phần nhiều đã cao tuổi, trong khi số người trẻ theo học không nhiều.

Việc được ghi danh di sản quốc gia giúp trống quân Đức Bác được chú ý hơn: có lớp truyền dạy, có câu lạc bộ, được mời biểu diễn trong các lễ hội và sự kiện văn hoá của tỉnh. Tuy vậy, giữ di sản không chỉ là biểu diễn trên sân khấu. Điều quan trọng là trống quân còn được hát trong chính cộng đồng, trong những dịp làng có việc vui, giữa những người hiểu và yêu nó.

Sau khi Vĩnh Phúc hợp nhất vào Phú Thọ, trống quân Đức Bác trở thành một phần trong kho di sản của tỉnh mới, bên cạnh hát xoan Phú Thọ đã được UNESCO ghi danh. Sự gần gũi này có thể mở ra cơ hội giao lưu giữa các câu lạc bộ dân ca trong tỉnh, nhưng cũng đặt ra yêu cầu giữ bản sắc riêng của từng làn điệu.

Muốn nghe trống quân Đức Bác thì làm thế nào

Trống quân không có “suất diễn” cố định như nhà hát. Để nghe được hát thật, có vài cách:

  • Đến Đức Bác vào dịp lễ hội làng hoặc các ngày lễ lớn, khi câu lạc bộ thường biểu diễn.
  • Theo dõi lịch các sự kiện văn hoá của tỉnh Phú Thọ và xã Sông Lô, nơi trống quân hay được mời trình diễn.
  • Liên hệ qua chính quyền xã hoặc nhà văn hoá thôn để hỏi về hoạt động của câu lạc bộ, đặc biệt nếu đi theo đoàn nghiên cứu, học sinh.
  • Nghe các bản ghi âm, ghi hình do cơ quan văn hoá, đài truyền hình thực hiện để làm quen trước khi đến.
  • Khi đến nghe, giữ trật tự, không bật nhạc to, không cắt ngang cuộc hát để chụp ảnh.
  • Nếu được mời hát cùng, đừng ngại thử vài câu đơn giản; các nghệ nhân thường vui khi người trẻ, người ngoài quan tâm.

Khi ghi âm, ghi hình để chia sẻ, nên xin phép nghệ nhân và ghi rõ tên làng, tên câu lạc bộ. Đó là cách ghi nhận công sức của những người đang giữ làn điệu.

Trống quân trong đời sống làng Đức Bác xưa và nay

Ngày trước, những cuộc hát trống quân thường diễn ra sau mùa gặt, khi thóc đã vào bồ, trai gái trong làng và làng bên có thời gian gặp nhau. Một sân đình, một bãi bờ sông hay một sân nhà rộng là đủ làm nơi hát. Người già ngồi nghe, bình phẩm câu nào hay, câu nào đối chưa khéo; trẻ con ngồi quanh, thuộc dần lời ca mà không cần ai dạy.

Trống quân vì thế từng là một kênh giao tiếp xã hội. Qua lời hát, trai gái tìm hiểu nhau, thử tài nhau, có khi nên duyên vợ chồng. Hai làng hát đối đáp với nhau cũng là cách giữ quan hệ láng giềng. Những câu hát hay được truyền miệng sang làng khác, góp vào kho lời ca chung của cả vùng ven sông Lô.

Hôm nay, các buổi hát chủ yếu diễn ra ở nhà văn hoá, sân khấu lễ hội hoặc trong sinh hoạt câu lạc bộ. Không khí khác xưa, nhưng những người còn hát vẫn giữ tinh thần đối đáp, ứng tác. Nếu có dịp ngồi gần nghe một cuộc hát của các nghệ nhân lớn tuổi, bạn sẽ thấy họ vẫn cười, vẫn trêu nhau bằng lời ca như những năm còn trẻ.

Nghe một cuộc hát trống quân cho hiểu: gợi ý cho người mới

Người chưa quen dân ca dễ thấy các câu hát giống nhau. Vài bước dưới đây giúp nghe có chủ đích hơn:

  1. Xác định hai bên: bên nào đang hỏi, bên nào đang đáp; thường bên nam và bên nữ đứng hoặc ngồi đối diện.
  2. Nghe câu đầu của mỗi lượt để biết chủ đề: chào hỏi, mời trầu, đố chữ, hay giao duyên.
  3. Để ý cách bên đáp lặp lại một phần câu hỏi rồi xoay ý; đó là chỗ thể hiện tài ứng tác.
  4. Theo nhịp trống để cảm được nhịp lục bát: câu sáu chữ, câu tám chữ nối nhau đều đặn.
  5. Khi khán giả cười hay vỗ tay giữa chừng, thường là vừa có một câu đối khéo hoặc một câu trêu duyên dáng; hỏi người bên cạnh câu ấy hay ở đâu.
  6. Sau buổi hát, nếu được, xin nghệ nhân giải thích một hai câu khó; nhiều câu dùng từ cổ hoặc tiếng địa phương.

Nghe vài lần như vậy, bạn sẽ nhận ra trống quân không đơn điệu chút nào: cái hay nằm ở sự qua lại giữa hai bên, ở trí nhớ và sự nhanh nhạy của người hát chứ không ở độ phức tạp của giai điệu.

Câu hỏi thường gặp

Hát trống quân Đức Bác ở đâu?

Hát trống quân Đức Bác gắn với làng Đức Bác thuộc huyện Sông Lô cũ, tỉnh Vĩnh Phúc cũ. Từ 1/7/2025, Đức Bác thuộc xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ. Xã Sông Lô mới gồm Đức Bác, Đồng Thịnh, Tứ Yên và Yên Thạch cũ.

Vì sao gọi là hát trống quân?

Tên gọi thường được giải thích gắn với trống đất, một nhạc cụ dân gian làm bằng cách căng dây qua miệng hố đất và gõ lấy nhịp. Có giả thuyết gắn với sinh hoạt của quân lính xưa, nhưng nguồn gốc chính xác chưa được xác định chắc chắn.

Trống quân khác quan họ thế nào?

Cả hai đều là hát đối đáp nam nữ. Trống quân mộc mạc, nhịp đều theo tiếng trống, lời chủ yếu là lục bát và chú trọng ứng tác. Quan họ có nhiều làn điệu, kỹ thuật luyến láy cầu kỳ và lề lối kết chạ riêng của vùng Kinh Bắc.

Mùa nào hay hát trống quân?

Theo truyền thống, trống quân được hát nhiều vào mùa thu, nhất là quanh rằm tháng Tám khi trời mát và trăng sáng. Ngày nay trống quân còn được biểu diễn trong lễ hội đầu xuân, ngày hội văn hoá và các buổi giao lưu của câu lạc bộ.

Có thể học hát trống quân không?

Có. Câu lạc bộ trống quân ở Đức Bác có hoạt động truyền dạy cho người trẻ. Người ngoài muốn học có thể liên hệ qua chính quyền xã hoặc nhà văn hoá thôn. Học trống quân cần thuộc nhiều câu lục bát và tập đối đáp cùng người khác.

Sau sáp nhập tỉnh, trống quân Đức Bác có còn được bảo tồn?

Trống quân Đức Bác vẫn là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, nay thuộc kho di sản của tỉnh Phú Thọ mới. Việc bảo tồn tiếp tục dựa vào câu lạc bộ, nghệ nhân và chính quyền địa phương. Lịch hoạt động cụ thể nên hỏi xã Sông Lô.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.