Vùng Vĩnh Phúc cũ có ba nhóm đất chính trùng với ba bậc địa hình: đất phù sa ven sông Hồng, sông Lô ở đồng bằng phía tây nam, đất xám bạc màu trên vùng đồi gò trung du ở giữa, và đất đỏ vàng (đất feralit) trên sườn núi Tam Đảo, vùng đồi núi phía bắc. Xen giữa là đất ruộng trũng ở các thung lũng và vùng chiêm, đất bãi bồi ngoài đê.
Hiểu đất giúp bạn hiểu vì sao Vĩnh Tường, Yên Lạc chuyên lúa và rau màu, vì sao vùng đồi Tam Dương, Bình Xuyên từng trồng sắn, chè, bạch đàn rồi thành khu công nghiệp, vì sao trên Tam Đảo trồng su su. Bài này viết cho người làm nông, người mua đất làm vườn và người muốn hiểu cảnh quan nơi mình sống.
Đất được tạo thành từ đâu ở vùng này
Đất là lớp mặt hình thành từ đá mẹ dưới tác động của khí hậu, nước, sinh vật qua thời gian rất dài. Ở vùng Vĩnh Phúc cũ, ba nguồn gốc khác nhau tạo ra ba nhóm đất. Trên núi, đá cứng của dãy Tam Đảo phong hoá trong khí hậu nóng ẩm thành đất đỏ vàng. Ở vùng đồi gò, đất phát triển trên phù sa cổ và đá phong hoá đã bị rửa trôi lâu đời, nên nghèo dinh dưỡng, có màu xám bạc.
Ở đồng bằng, đất do sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy bồi đắp qua hàng nghìn năm. Phù sa sông Hồng giàu khoáng, hạt mịn, tạo ra đất màu nâu tươi, dễ canh tác. Trong đê, đất không còn được bồi mới hằng năm nên dần chua và kém màu hơn; ngoài đê, bãi bồi vẫn nhận phù sa mỗi mùa lũ.
Những khác biệt này không có ranh giới sắc nét: một xã có thể có cả đồi bạc màu lẫn ruộng phù sa trong thung lũng. Khi mua đất hay định trồng cây, xem đất thật ở chỗ đó và hỏi người canh tác lâu năm vẫn đáng tin hơn đọc bản đồ.
Ba nhóm đất chính và cách dùng thường thấy
Mô tả khái quát theo tài liệu thổ nhưỡng phổ biến; muốn biết chính xác cho một thửa đất, cần lấy mẫu phân tích.
| Nhóm đất | Vùng tiêu biểu (tên cũ) | Đặc điểm | Trồng gì hợp | Hạn chế |
|---|---|---|---|---|
| Đất phù sa | Vĩnh Tường, Yên Lạc, ven sông Lô, Phó Đáy | Màu nâu, hạt mịn, giữ nước tốt, tương đối màu mỡ | Lúa hai vụ, rau màu, ngô, đậu, cây vụ đông | Vùng trũng dễ úng, đất trong đê dần chua |
| Đất xám bạc màu | Đồi gò Tam Dương, Bình Xuyên, Vĩnh Yên, nam Lập Thạch, Sông Lô | Màu xám nhạt, nhiều cát, nghèo mùn, khô nhanh | Cây ăn quả, rừng trồng, chè, sắn, cây họ đậu cải tạo đất | Giữ nước, giữ phân kém, dễ xói mòn |
| Đất đỏ vàng | Sườn Tam Đảo, Ngọc Thanh, đồi phía bắc Lập Thạch, Sông Lô | Màu đỏ vàng, tầng dày ở chỗ còn rừng, chua | Rừng, cây lâm nghiệp, su su và rau trên núi, chè | Dốc, dễ rửa trôi khi mất rừng |
Ngoài ba nhóm chính còn có đất ruộng trũng, đất glây ở các vùng chiêm và thung lũng ngập nước lâu, phù hợp với lúa một vụ hoặc nuôi cá, sen, nhưng khó trồng cây cạn.
Đất phù sa đồng bằng: lúa, rau màu và vụ đông
Đồng bằng Vĩnh Tường, Yên Lạc là vùng đất tốt nhất cho nông nghiệp của tỉnh cũ. Đất phù sa giữ nước, nhiều dinh dưỡng, lại có hệ thống thuỷ lợi lấy nước từ sông Phó Đáy, nên cấy được hai vụ lúa mỗi năm, xen một vụ đông với ngô, khoai, rau, bí. Các vùng bãi ven sông Hồng trồng ngô, đậu, rau theo mùa nước rút.
Thách thức của đất phù sa trong đê là độ chua tăng dần khi canh tác liên tục và bón nhiều phân hoá học. Nông dân lâu năm thường bón vôi, bón phân chuồng ủ hoai, luân canh lúa với cây họ đậu để giữ đất. Ở vùng trũng, ngập úng mùa mưa là rủi ro lớn, nên lịch gieo cấy phải tính sao cho thu hoạch trước những tuần mưa nhiều nhất.
Khi đô thị hoá lan xuống phía nam, một phần đất phù sa tốt đã chuyển sang làm nhà ở, đường sá. Đất lúa chất lượng cao được quy hoạch bảo vệ theo quy định về sử dụng đất, nên không phải mảnh ruộng nào cũng có thể chuyển mục đích dễ dàng.
Đất bạc màu trên đồi gò: khó canh tác, dễ xây dựng
Đất xám bạc màu là đặc trưng của vùng trung du Vĩnh Phúc cũ. Lớp đất mặt nhiều cát, ít mùn, nước mưa thấm nhanh rồi khô cũng nhanh, phân bón dễ bị rửa trôi. Trước đây, người dân trồng sắn, khoai, chè, bạch đàn, keo, cây ăn quả trên đồi, năng suất không cao. Ruộng trong thung lũng giữa các đồi tốt hơn nhờ đất bồi từ trên đồi trôi xuống.
Muốn trồng trọt trên đất bạc màu, các cách cải tạo phổ biến là tăng chất hữu cơ (phân chuồng, phân xanh, rơm rạ ủ), trồng cây họ đậu xen canh, phủ gốc giữ ẩm, làm bậc thang hoặc trồng theo đường đồng mức để chống xói mòn. Những cách này cần kiên trì vài mùa mới thấy hiệu quả rõ.
Chính vì kém màu mỡ cho cây lúa nhưng nền cao, chắc, ít ngập, đồi gò trở thành nơi thuận lợi đặt khu công nghiệp, khu đô thị. Nhiều quả đồi bạch đàn ngày trước nay là nhà xưởng, đường gom. Với người mua đất trên đồi để làm vườn, cần chuẩn bị đầu tư cải tạo đất và nguồn nước tưới, vì đất đồi khô rất nhanh vào mùa hanh.
Đất đỏ vàng trên núi: rừng, su su và chuyện xói mòn
Đất tốt khi còn rừng. Dưới tán rừng Tam Đảo, lớp mùn từ lá cây phân huỷ giữ cho đất đỏ vàng tơi xốp, giàu dinh dưỡng. Rừng là "người giữ đất" ở vùng dốc.
Mất rừng là mất đất. Khi rừng bị chặt, mưa lớn rửa trôi lớp đất mặt chỉ trong vài mùa, để lại đất cằn màu vàng nhạt, sỏi đá lộ ra. Đất trôi xuống suối, làm bồi lắng hồ chứa phía dưới.
Su su trên thị trấn núi. Ở thị trấn Tam Đảo, người dân làm giàn su su trên đất dốc quanh nhà. Khí hậu mát, ẩm quanh năm cùng đất trên núi giúp su su cho ngọn và quả quanh năm, trở thành sản vật quen thuộc của vùng.
Canh tác trên đất dốc cần giữ đất. Làm vườn trên sườn núi nên trồng theo đường đồng mức, giữ lại thảm cỏ, cây bụi ở bờ, không cày xới cả sườn dốc trước mùa mưa. Những biện pháp đơn giản này giảm đáng kể xói mòn.
Mua đất làm vườn ở vùng Vĩnh Phúc cũ: nên kiểm tra gì
Nhiều người ở Hà Nội và các khu công nghiệp tìm mua đất vườn ở vùng đồi, chân núi. Bên cạnh giấy tờ pháp lý, mấy điều về đất và nước rất đáng xem:
- Đất nguyên thổ hay đất san lấp: đất san lấp từ nơi khác có thể lẫn xà bần, nghèo dinh dưỡng, nền lún không đều.
- Nguồn nước tưới: gần kênh thuỷ lợi, hồ, suối hay phải khoan giếng; mùa khô nguồn nước còn không.
- Độ dốc và thoát nước: đất dốc dễ xói, đất trũng dễ úng; xem nước mưa chảy đi đâu sau một trận mưa lớn.
- Mục đích sử dụng đất trên giấy tờ: đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất ở có quy định khác nhau về xây dựng.
- Có nằm trong hành lang bảo vệ kênh, hồ chứa, rừng đặc dụng hay vùng có nguy cơ sạt lở không.
- Lấy mẫu đất phân tích ở cơ sở có chức năng nếu định trồng cây giá trị cao, để biết độ chua, dinh dưỡng, có cần cải tạo nhiều không.
Đất vườn đẹp trên ảnh có thể là đất bạc màu khô cằn vào mùa hanh. Đến xem đất vào cả mùa khô lẫn mùa mưa là cách chắc nhất.
Đất và đô thị hoá: những gì đang thay đổi
Vài chục năm gần đây, vùng Vĩnh Phúc cũ chuyển đổi một lượng lớn đất nông nghiệp, đất đồi sang đất công nghiệp, đô thị và hạ tầng giao thông. Đồi gò bạc màu chuyển đổi nhiều nhất; đất phù sa ven đô thị cũng bị thu hẹp. Sự thay đổi này tạo ra việc làm và hạ tầng, nhưng cũng làm mất đi những cánh đồng, vườn đồi từng nuôi sống nhiều thế hệ.
Một hệ quả ít người để ý là thay đổi dòng chảy nước mặt: đồi bị san, ruộng bị lấp, bê tông thay đất. Nước mưa không còn thấm xuống mà chảy tràn, dồn về chỗ trũng nhanh hơn. Những vùng trước kia ít ngập có thể bắt đầu ngập khi khu đất cao bên cạnh được bê tông hoá.
Với người làm nông còn lại, giữ đất tốt là giữ sinh kế: bón cân đối, dùng phân hữu cơ, luân canh, hạn chế lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật. Với người mua đất, hiểu đất là cách tránh những bất ngờ đắt giá sau khi đã xuống tiền.
Đất ruộng trũng, đất chiêm và những vùng sen, cá
Xen giữa đồi gò và đồng bằng có những vùng trũng, nơi nước đọng lâu trong năm. Đất ở đây thường bị glây hoá, tức tầng đất dưới bị ngập nước lâu, thiếu ô xi, có màu xám xanh, dính và nặng. Loại đất này khó trồng cây cạn, chỉ hợp lúa một vụ, hoặc được chuyển sang đào ao nuôi cá, trồng sen, trồng rau muống.
Ở nhiều xã vùng Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên cũ, những chân ruộng chiêm trũng từng chỉ cấy được một vụ bấp bênh đã được chuyển sang mô hình lúa kết hợp cá, hoặc đào ao, đắp bờ trồng cây ăn quả. Việc chuyển đổi này giúp tận dụng đặc điểm đất thay vì chống lại nó.
Với người mua đất, đất ruộng trũng cần được nhận biết sớm: nền yếu, ngập nước, xây dựng tốn kém hơn vì phải xử lý móng và tôn nền. Nếu thấy cỏ năn, lác mọc dày, đất dính chân, có mùi bùn khi đào lên, nhiều khả năng đó là đất trũng ngập lâu năm.
Đất và những sản vật quen thuộc của vùng
Mỗi loại đất gắn với những sản vật mà người Vĩnh Phúc cũ quen thuộc. Đất phù sa ven sông Hồng nuôi những cánh đồng lúa, ngô, rau màu, cây vụ đông của Vĩnh Tường, Yên Lạc; những làng trồng rau, trồng hoa ven đô cũng dựa vào loại đất này. Đất đồi trung du từng là đất của sắn, chè, keo, bạch đàn và vườn cây ăn quả; trên những quả đồi chưa thành nhà xưởng, gà thả đồi vẫn là hình ảnh quen thuộc.
Trên núi, đất đỏ vàng cùng khí hậu mát nuôi su su và rau quanh thị trấn Tam Đảo. Ở những thung lũng ven suối, ruộng bậc thang nhỏ và vườn rau xen giữa rừng là cảnh quen của các thôn vùng đệm.
Khi đất đổi mục đích, những sản vật ấy cũng đổi theo. Đồi chè thành khu công nghiệp, ruộng rau ven đô thành khu dân cư. Những người còn làm nông trên đất phù sa, đất đồi hôm nay vì vậy càng cần biết rõ đất của mình để chọn cây, chọn con hợp lý, thay vì làm theo phong trào rồi bỏ dở sau vài vụ.
Câu hỏi thường gặp
Đất ở Vĩnh Phúc có tốt cho trồng trọt không?
Tuỳ vùng. Đất phù sa ở Vĩnh Tường, Yên Lạc và ven sông khá màu mỡ, hợp lúa và rau màu. Đất đồi bạc màu ở Tam Dương, Bình Xuyên, Vĩnh Yên nghèo dinh dưỡng, cần cải tạo. Đất đỏ vàng trên núi tốt khi còn rừng nhưng dễ xói mòn khi canh tác trên dốc.
Đất bạc màu là gì và cải tạo thế nào?
Đất bạc màu là đất xám nhạt, nhiều cát, nghèo mùn và dinh dưỡng do bị rửa trôi lâu ngày. Cách cải tạo phổ biến là bổ sung phân hữu cơ, phân xanh, trồng cây họ đậu xen canh, phủ gốc giữ ẩm và chống xói mòn bằng bậc thang hoặc trồng theo đường đồng mức.
Vì sao su su Tam Đảo nổi tiếng?
Su su được trồng trên đất dốc quanh thị trấn Tam Đảo, nơi có khí hậu mát, ẩm, nhiều sương quanh năm. Điều kiện này giúp cây ra ngọn non, quả đều. Ngọn su su xào tỏi là món quen thuộc của khách lên núi, và su su là đặc sản nhiều người mua mang về.
Đất bãi ngoài đê sông Hồng dùng để làm gì?
Đất bãi ngoài đê được bồi phù sa mỗi mùa lũ nên khá màu mỡ, thường trồng ngô, đậu, rau màu theo mùa nước rút. Việc xây dựng ở bãi ngoài đê bị hạn chế theo quy định về đê điều và thoát lũ, người mua đất cần tìm hiểu kỹ trước khi giao dịch.
Mua đất đồi ở Vĩnh Phúc cũ làm vườn có nên lo về nguồn nước?
Có. Đất đồi khô rất nhanh vào mùa hanh, nhiều nơi xa kênh mương. Trước khi mua nên kiểm tra nguồn nước tưới như hồ, suối, kênh thuỷ lợi hay khả năng khoan giếng, và xem đất vào mùa khô để biết đất giữ ẩm đến đâu.
Làm sao biết đất mình có chua hay thiếu dinh dưỡng?
Cách chắc nhất là lấy mẫu đất ở vài vị trí trong thửa, gửi phân tích tại cơ sở có chức năng để biết độ chua, hàm lượng mùn, đạm, lân, kali. Kết quả giúp quyết định có cần bón vôi, bổ sung phân hữu cơ hay chọn cây trồng khác cho phù hợp.